Quy định về người giúp việc gia đình

Chủ đề quản lý người giúp việc đang là chuyện khó xử không chỉ của riêng chủ nhà, mà còn là vấn đề khá nhức nhối của các cơ quan nhà nước khi muốn thể chế hóa quan hệ người giúp việc gia đình. Cho đến nay, đã tròn hai năm để từ thời điểm Bộ LĐ – TB & XH bắt tay soạn thảo nhưng Nghị định về quản lý người giúp việc vẫn chưa thể được thông qua. Vậy người giúp việc được bảo vệ như thế nào trước những khó khăn của đặc thù nghề nghiệp cũng như lỗ hổng của pháp luật? Chúng ta cùng điểm qua một số quy định về người giúp việc được quy định trong Bộ luật lao động hiện hành.

Cơ sở pháp lý

Căn cứ theo Điều 2 Bộ luật lao động, các quy định của Bộ luật này được áp dụng đối với mọi người lao động, mọi tổ chức, mọi cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động, thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu. Bên cạnh đó, Bộ luật này cũng được áp dụng đối với người học nghề, người giúp việc gia đình.

Về cơ bản, người giúp việc gia đình cũng là người lao động và họ cũng được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ chung như những người lao động khác. Tuy nhiên, do đặc thù công việc, nên người giúp việc gia đình có những điểm khác biệt so với các loại hình lao động khác như hình thức xác nhận quan hệ lao động, thời gian,  tiền lương, nơi làm việc, hình thức quản lý…

Xác lập quan hệ lao động với người giúp việc gia đình

Căn cứ khoản 1 Điều 139 Bộ luật lao động, người được thuê mướn để giúp việc trong gia đình có thể giao kết hợp đồng lao động bằng miệng hoặc bằng văn bản. Do phần lớn các hợp đồng giúp việc hiện nay giao kết bằng miệng. Trong khi đó hình thức hợp đồng giao kết bằng miệng thường rất ngắn gọn và rất có khả năng bị lãng quên hoặc nhầm lẫn. Để bù lại khiếm khuyết của loại hợp đồng này, điều 28 Bộ luật lao động có quy định: “Trong trường hợp giao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động”. Như vậy, trong trường hợp có sai sót, hay tranh chấp về các điều khoản trong hợp đồng miệng mà các bên không thống nhất được thì sẽ áp dụng các quy định của pháp luật lao động để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Tuy nhiên, không phải người giúp việc nào cũng có thể giao kết hợp đồng bằng miệng với chủ nhà, nếu chủ nhà có thuê người giúp việc để giúp để trông coi cả tài sản thì hợp đồng giúp việc cần được lập bằng văn bản. Quy định này giúp đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

Tiền lương

Tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và các khoản trợ cấp do hai bên thoả thuận khi giao kết hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động phải cấp tiền tàu xe đi đường khi người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường hợp người giúp việc tự ý thôi việc khi chưa hết thời hạn hợp đồng lao động.

Các quy định khác

Người sử dụng lao động phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình, có trách nhiệm chăm sóc khi người giúp việc bị ốm đau, tai nạn.

Trên đây là một số quy định ít ỏi dành riêng cho quan hệ người giúp việc gia đình được đề cập trong Bộ luật lao động. Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và cuộc sống của người giúp việc thì hiện còn đang bỏ ngỏ như: thế nào là công việc được gọi là việc gia đình; thời gian làm việc (8h/ngày theo quy định của Bộ luật lao động hay 24/24 trên thực tế?); chế độ tiền lương, mức lương, tăng lương;  trợ cấp và bồi thường hợp đồng lao động; thưởng/phạt; chế độ bảo hiểm; độ tuổi của lao động giúp việc gia đình; trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đăng ký, khai báo với chính quyền địa phương; về trẻ em giúp việc gia đình, về thời giờ làm việc, học tập, nghỉ ngơi, giải trí… đối với lao động trẻ em và chế độ quản lý của Nhà nước…

Hy vọng trong thời gian không xa, khi Nghị định về quản lý người giúp việc gia đình được ban hành và có hiệu lực, mối quan hệ pháp luật về người giúp việc sẽ được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao động cũng như người lao động. giup-viec.com sẽ tiếp tục cập nhật….

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb